Theo danh bạ doanh nghiệp của trang, bán buôn là nhóm đông nhất ở xã Tân Nhựt, và trong đó bán buôn vật liệu, thiết bị lắp đặt xây dựng cùng bán buôn kim loại (sắt thép) là hai ngành có ghi rõ nhiều nhất. Kinh doanh bền trong ngành này ở vùng ven đô tây nam phụ thuộc vào bốn việc: kho đặt ở chỗ xe lớn ra vào được và không ngập; giao hàng đúng hẹn kể cả vào hẻm nhỏ; quản lý công nợ chặt với nhà thầu, chủ nhà; và hoá đơn, chứng từ rõ ràng với cả khách lẻ lẫn doanh nghiệp.
Bài viết cho người đang hoặc sắp kinh doanh vật liệu ở Tân Nhựt, và cho nhà thầu nhỏ muốn hiểu cách các đại lý vận hành. Trang không nêu giá vật liệu, không khen chê đại lý hay hãng nào; con số minh hoạ là ví dụ giả định.
Vì sao Tân Nhựt có nhiều doanh nghiệp vật liệu
Vùng tây nam thành phố đã và đang xây nhiều: khu dân cư mới ở Tân Kiên, Tân Túc, nhà phố trong hẻm thay nhà cấp bốn, nhà xưởng, kho trên đất ruộng cũ, đường sá được mở rộng. Mỗi công trình cần cát, đá, gạch, xi măng, sắt thép, tôn, ống nước, thiết bị điện. Đại lý gần công trình giao nhanh, rẻ cước hơn.
Thêm vào đó, Tân Nhựt nằm trên đường từ các nhà máy, cảng phía nam và miền Tây vào thành phố. Doanh nghiệp đặt kho ở đây vừa phục vụ công trình trong vùng, vừa phân phối tiếp cho đại lý nhỏ ở Bình Chánh cũ, Bình Tân, các tỉnh lân cận. Theo danh bạ, nhiều đơn vị bán buôn trên địa bàn là chi nhánh hoặc kho của công ty có trụ sở nơi khác.
Ngành này cũng nhạy với chu kỳ. Khi thị trường nhà đất chậm, công trình dân dụng ít đi, nhà thầu chậm trả tiền, đại lý ôm hàng tồn và công nợ. Theo danh bạ, trong số doanh nghiệp đang tạm ngừng trên địa bàn, bán buôn là nhóm có nhiều nhất, một tín hiệu cho thấy độ rủi ro của ngành.
Chọn kho: bốn điều không thể thiếu
Xe lớn vào được. Hàng sắt thép, xi măng về bằng xe tải lớn, có khi xe container. Kho phải có đường vào, sân quay đầu, chỗ bốc dỡ không lấn đường. Kho mặt tiền Quốc lộ 1 thuận nhưng phải tuân thủ quy định đấu nối, dừng đỗ.
Nền cao, không ngập. Xi măng gặp nước là hỏng; sắt thép ngập lâu rỉ sét. Ở vùng thấp nhiều kênh rạch như Tân Nhựt, xem xét kho sau những trận mưa lớn, kỳ triều cường trước khi thuê.
Pháp lý đất và phòng cháy. Kho phải trên đất phù hợp mục đích; kho chứa vật liệu dễ cháy (sơn, keo, ống nhựa, gỗ) cần đáp ứng yêu cầu phòng cháy theo quy định.
Gần khách. Bán cho công trình dân dụng trong vùng thì gần các khu dân cư đang xây; phân phối đi tỉnh thì gần trục đi miền Tây.
Giao hàng vào hẻm: nơi nhiều đại lý mất khách
Phần lớn nhà dân ở Tân Nhựt nằm trong hẻm, đường ấp, có nơi chỉ vừa xe ba gác. Một xe tải chở sắt thép không vào được thì phải trung chuyển, bốc vác tay, mất thời gian, dễ va quệt nhà dân. Đại lý nào lo được khâu này gọn gàng, đúng giờ, không làm phiền hàng xóm của chủ nhà, đại lý đó giữ được khách.
Cách các đại lý có kinh nghiệm làm: khảo sát đường vào trước khi nhận đơn lớn; có đủ loại xe, từ xe tải lớn đến xe tải nhỏ, xe ba gác; hẹn giờ giao tránh giờ tan ca, tan học; dặn tài xế, công nhân bốc vác giữ sạch đường, không chắn lối đi. Ghi rõ trong báo giá phần cước trung chuyển nếu có, để khách không bất ngờ.
Những quy định về giờ cấm xe tải, tải trọng cầu đường trong vùng cũng phải nắm. Một số cầu nhỏ qua kênh nội đồng không chịu được xe nặng; chạy liều là nguy hiểm và có thể bị xử phạt.
Khách của một đại lý vật liệu ở Tân Nhựt
Khách của đại lý vật liệu trong vùng chia thành vài nhóm rõ rệt, mỗi nhóm một cách mua. Chủ nhà tự xây hoặc sửa nhà trong hẻm mua lẻ từng đợt theo tiến độ, hỏi giá kỹ, cần tư vấn, hay mua chịu đến khi xong phần thô. Thầu thợ nhỏ nhận xây nhà dân lấy hàng thường xuyên, cần giao nhanh, sống bằng uy tín với đại lý. Doanh nghiệp xây dựng, chủ đầu tư nhà xưởng, kho mua số lượng lớn, đòi hợp đồng, hoá đơn, chứng chỉ chất lượng, thanh toán theo đợt. Đại lý nhỏ ở các xã lân cận và tỉnh miền Tây lấy hàng để bán lại.
Mỗi nhóm cần một cách phục vụ và một mức rủi ro công nợ khác nhau. Đại lý trộn lẫn tất cả, cho mọi người nợ như nhau, thường gặp rắc rối. Đại lý có kinh nghiệm tách khách theo nhóm, đặt điều kiện thanh toán riêng, và biết nhóm nào đang chiếm bao nhiêu phần doanh thu, bao nhiêu phần công nợ.
Ở Tân Nhựt, nhóm chủ nhà và thầu thợ nhỏ lên xuống theo nhịp xây dựng nhà ở trong vùng; nhóm doanh nghiệp theo nhịp đầu tư nhà xưởng, kho. Hai nhịp này không phải lúc nào cũng trùng nhau, nên giữ được cả hai nhóm giúp đại lý đỡ chao đảo.
Nhà cung cấp và nguồn hàng
Đại lý vật liệu ở vùng ven đô thường lấy hàng từ nhà máy, nhà phân phối cấp trên, hoặc các đại lý lớn hơn. Nguồn hàng rõ ràng, có hoá đơn, có chứng chỉ chất lượng là nền tảng của chữ tín với khách. Hàng trôi nổi giá rẻ có thể lời trước mắt nhưng mất khách khi có sự cố công trình.
Điều khoản với nhà cung cấp cũng quan trọng như điều khoản với khách: thời hạn thanh toán, chính sách đổi trả hàng lỗi, hỗ trợ vận chuyển, chiết khấu theo sản lượng. Đại lý bị kẹp giữa hai đầu, phải trả nhà cung cấp sớm trong khi khách trả muộn, là đại lý dễ gãy dòng tiền nhất.
Giữ quan hệ với hơn một nhà cung cấp cho mỗi nhóm hàng chính giúp chủ động khi một nguồn thiếu hàng, tăng giá hay chậm giao. Mua hàng nên có đơn đặt hàng và biên bản nhận hàng kiểm số lượng, quy cách ngay khi xe tới kho.
Công nợ: phần quyết định sống còn
Ngành vật liệu ở vùng ven đô vận hành trên công nợ: nhà thầu lấy hàng trước, trả sau khi chủ nhà thanh toán từng đợt; chủ nhà tự xây lấy hàng dần, trả khi xong phần thô. Đại lý bán chịu để giữ khách, nhưng chịu quá tay là ôm nợ khó đòi.
Những nguyên tắc mà các chủ đại lý lâu năm hay nhắc: biết rõ người mua chịu là ai, công trình ở đâu, ai là chủ nhà; đặt hạn mức nợ cho từng khách và giữ đúng; mỗi lần giao có phiếu giao hàng ký nhận; đối chiếu công nợ định kỳ có chữ ký hai bên; không bán chịu tiếp khi nợ cũ quá hạn. Với nhà thầu mới, giao dịch tiền ngay vài lần trước khi cho nợ.
Khi khách là doanh nghiệp, hợp đồng nên ghi thời hạn thanh toán, lãi chậm trả, và tra cứu tình trạng doanh nghiệp trước khi bán chịu lớn (xem bài về tra cứu doanh nghiệp trong cùng mục). Nợ của doanh nghiệp đã ngừng hoạt động rất khó đòi.
Hoá đơn, chứng từ: khách lẻ và khách doanh nghiệp
Khách của đại lý vật liệu gồm cả người dân tự xây nhà lẫn doanh nghiệp xây dựng, công ty có công trình. Khách doanh nghiệp cần hoá đơn đúng, đủ để hạch toán; khách lẻ có khi không lấy hoá đơn nhưng vẫn là doanh thu phải ghi nhận. Từ khi thuế khoán với hộ kinh doanh được bỏ và hoá đơn điện tử phổ biến, việc bán không xuất hoá đơn càng nhiều rủi ro.
Với sắt thép, một số mặt hàng có yêu cầu về chứng nhận chất lượng, nguồn gốc. Khách công trình lớn thường đòi chứng chỉ xuất xưởng, chứng nhận hợp quy; đại lý cần lấy đầy đủ từ nhà cung cấp và giao kèm hàng.
Lưu chứng từ nhập hàng, phiếu xuất kho, phiếu giao, hoá đơn theo từng khách, từng công trình. Khi có khiếu nại về số lượng, chất lượng, hoặc khi cơ quan thuế đối chiếu, chứng từ là thứ duy nhất bảo vệ bạn.
Hàng tồn và biến động giá
Giá sắt thép, xi măng lên xuống theo thị trường. Đại lý ôm nhiều hàng khi giá cao rồi giá giảm sẽ lỗ; ôm ít khi giá đang lên thì mất cơ hội và không đủ hàng cho khách quen. Không có công thức đúng cho mọi lúc; điều có thể làm là theo dõi đều đặn, không đặt cược quá sức vốn, và có nguồn hàng linh hoạt.
Hàng tồn lâu còn có rủi ro hư hỏng: xi măng để lâu vón cục, sắt thép rỉ, gạch vỡ do xếp sai. Kho ở vùng ẩm như Tân Nhựt cần xếp hàng trên kệ, pallet, có mái che kín, thông thoáng; xi măng nhập trước xuất trước.
Kiểm kho định kỳ, đối chiếu sổ sách với thực tế. Hao hụt không giải thích được là dấu hiệu của thất thoát hoặc ghi chép sai, và cũng là điểm cơ quan thuế quan tâm khi kiểm tra.
An toàn trong kho bãi vật liệu
Kho vật liệu là nơi nhiều nguy cơ: bó sắt thép đổ khi xếp cao, xe nâng va người, cẩu hàng rơi, bụi xi măng, tai nạn khi bốc vác nặng. Người lao động trong kho cần được trang bị găng tay, giày bảo hộ, mũ, khẩu trang; người lái xe nâng, vận hành cẩu cần có chứng chỉ, thiết bị nâng phải được kiểm định theo quy định.
Xếp hàng đúng cách: sắt thép xếp trên giá đỡ, có chèn chống lăn; gạch, xi măng không xếp quá cao; lối đi trong kho thông thoáng, có vạch phân khu cho xe và người. Không cho trẻ em, người không phận sự vào khu bốc dỡ, điều hay bị bỏ qua ở những kho nằm sát nhà dân.
Khi có tai nạn, sơ cứu tại chỗ, đưa đến cơ sở y tế gần nhất, báo cáo và giải quyết chế độ cho người lao động theo luật. Một tai nạn nghiêm trọng có thể làm đình trệ cả cơ sở và gây tổn thất lớn hơn nhiều so với chi phí phòng ngừa. Mua bảo hiểm tai nạn cho người bốc vác, lái xe và bảo hiểm tài sản cho kho là khoản chi nhiều đại lý lâu năm coi là bắt buộc dù luật không đòi hết.
Câu hỏi thường gặp
Bán buôn vật liệu xây dựng có phải ngành có điều kiện không?
Bán buôn vật liệu xây dựng thông thường không phải ngành có điều kiện đặc biệt, nhưng kho bãi phải đáp ứng yêu cầu về đất, phòng cháy, môi trường; một số mặt hàng có yêu cầu về chất lượng, hợp quy. Kiểm quy định hiện hành với hàng bạn kinh doanh.
Làm sao giảm rủi ro khi bán chịu cho nhà thầu?
Biết rõ nhà thầu và công trình, đặt hạn mức nợ, có phiếu giao ký nhận mỗi lần, đối chiếu công nợ định kỳ có chữ ký, không bán tiếp khi nợ cũ quá hạn. Với doanh nghiệp, tra cứu tình trạng trước khi cho nợ lớn.
Kho vật liệu ở Tân Nhựt cần lưu ý gì về ngập?
Vùng thấp nhiều kênh rạch, một số nơi ngập khi mưa lớn, triều cường. Chọn kho nền cao, xem trước vào mùa mưa, xếp xi măng, sắt thép trên pallet, kệ, có mái che kín và kế hoạch di dời hàng khi có cảnh báo.
Khách lẻ không lấy hoá đơn thì có phải ghi doanh thu không?
Có. Doanh thu bán hàng phải được ghi nhận dù khách có lấy hoá đơn hay không, theo quy định về thuế và hoá đơn hiện hành. Nhiều trường hợp người bán phải lập hoá đơn kể cả khi khách không yêu cầu.
Giao vật liệu vào hẻm nhỏ thì tính cước thế nào?
Mỗi đại lý có cách tính riêng theo quãng đường, loại xe và công bốc vác trung chuyển. Nên khảo sát đường trước, ghi rõ khoản trung chuyển trong báo giá để khách không bất ngờ và tránh tranh cãi khi giao.
Có nên ôm hàng khi dự đoán giá sắt thép tăng?
Trang không đưa ra dự báo giá hay lời khuyên đầu cơ. Nguyên tắc thận trọng là không đặt cược vượt sức vốn, giữ lượng tồn vừa phải theo nhu cầu khách quen và theo dõi thị trường đều đặn.