Vài chục năm qua, vùng đất nay là xã Tân Nhựt chuyển từ một vùng chủ yếu làm lúa và hoa màu sang một vùng ven đô sống bằng nhiều nghề: làm công ở khu công nghiệp và xưởng, cho thuê trọ, buôn bán, dịch vụ, vận tải, cùng một phần còn giữ ruộng, vườn. Sự chuyển đổi này không đều: phía Tân Túc và Tân Kiên cũ, sát Quốc lộ 1, đô thị hoá nhanh; phía Tân Nhựt cũ vẫn còn những cánh đồng và kênh rạch nội đồng.
Bài này kể lại quá trình ấy từ góc nhìn sinh kế của các hộ gia đình — chuyện học nghề, chuyện đất, chuyện con cái — chứ không đi vào số liệu thống kê. Chỗ nào chưa có nguồn chắc chắn, bài viết theo lối mô tả chung. Chuyện pháp lý đất đai, chuyển mục đích sử dụng đất được dành cho mục nhà ở và đất đai của trang.
Ruộng đồng thời trước và những gì còn lại
Theo lời kể của nhiều người lớn tuổi và các tài liệu địa phương, vùng Tân Nhựt, Tân Kiên cũ xưa là ruộng lúa, đất thấp, nhiều kênh rạch, có nơi đất phèn, làm lúa phải canh nước, canh mùa. Bên cạnh lúa có rau màu, ao cá, vườn cây quanh nhà. Đời sống gắn với con nước lên xuống và nhịp mùa vụ, nhiều gia đình vừa làm ruộng vừa buôn bán nhỏ ở chợ.
Thị trấn Tân Túc, từng là huyện lỵ của huyện Bình Chánh, sớm có nhịp phố chợ hơn: trụ sở cơ quan, chợ, hàng quán dọc Quốc lộ 1. Người ở đây đi buôn, làm dịch vụ, làm việc ở cơ quan nhiều hơn so với các ấp sâu trong đồng.
Ngày nay, đi về phía Tân Nhựt cũ vẫn gặp những cánh ruộng xanh, bờ kênh có dừa nước, người nông dân đi thăm lúa sáng sớm. Nhưng xen giữa là nhà mới xây, dãy trọ, xưởng nhỏ, bãi đất trống chờ dự án. Ruộng không còn là sinh kế chính của đa số hộ; với nhiều nhà, ruộng còn đó như một phần tài sản và thói quen.
Cũng vì quen ruộng mà người lớn tuổi ở đây có những hiểu biết đáng quý về đất và nước: chỗ nào trũng, mưa lớn đọng lâu; mùa nào nước lên cao; con kênh nào nối ra đâu. Người mới đến mua đất, thuê kho, chọn chỗ trọ mà chịu hỏi chuyện các cô chú gốc trong ấp thường biết được nhiều điều mà bản đồ trên điện thoại không cho thấy.
Những lực đẩy khiến vùng quê đổi nghề
Không có một mốc duy nhất; nhiều yếu tố cộng dồn theo thời gian. Có thể kể:
- Khu công nghiệp lân cận: khu công nghiệp Lê Minh Xuân, phần trên địa bàn xã và các khu láng giềng ở Bình Tân, kéo theo nhu cầu lao động, nhà trọ, dịch vụ.
- Đường giao thông: Quốc lộ 1 lâu đời, rồi đại lộ Võ Văn Kiệt, cao tốc TP.HCM – Trung Lương làm vùng này gần trung tâm và gần miền Tây hơn, kho bãi tìm đến.
- Giá trị đất tăng: đất ruộng gần đường lớn có giá trị cao hơn nhiều so với thu nhập từ lúa, khiến nhiều hộ bán hoặc chuyển đổi.
- Làm lúa thu nhập thấp, rủi ro cao: đất phèn, ngập, sâu bệnh, giá vật tư; thế hệ trẻ ít mặn mà với ruộng.
- Người nhập cư: dòng người lao động từ nhiều tỉnh đến, tạo nhu cầu chỗ ở, ăn uống, buôn bán quanh năm.
- Quy hoạch đô thị của thành phố: định hướng phát triển khu vực tây nam làm thay đổi kỳ vọng sử dụng đất.
Mỗi lực đẩy có mặt tốt, mặt khó. Chẳng hạn đất lên giá giúp nhiều gia đình có vốn, nhưng cũng làm người trẻ khó mua đất ở ngay nơi mình lớn lên.
Ba con đường thường gặp của các gia đình gốc
Con đường thứ nhất là vào xưởng. Thế hệ trẻ của nhiều gia đình đi làm công nhân, kỹ thuật viên, nhân viên kho ở các khu công nghiệp quanh vùng. Lợi thế là ở gần, có nhà sẵn; nhiều người làm lâu năm, lên tổ trưởng, chuyền trưởng, hoặc học thêm để làm kỹ thuật, văn phòng.
Con đường thứ hai là làm chủ nhỏ trên đất nhà. Phổ biến nhất là xây dãy trọ cho công nhân thuê, mở tạp hoá, quán ăn, tiệm sửa xe, bãi giữ xe, cho thuê mặt bằng làm kho. Đây là cách biến đất ruộng thành thu nhập đều đặn, nhưng cũng đòi hỏi vốn, hiểu thủ tục xây dựng, phòng cháy và quản lý người thuê. Những chuyện ấy trang nói kỹ ở mục nhà ở và mục doanh nghiệp.
Con đường thứ ba là giữ nghề nông theo kiểu mới: trồng rau, nuôi cá, trồng hoa kiểng trên diện tích nhỏ, bán cho chợ và thương lái trong thành phố. Số hộ đi theo hướng này ít hơn, và phụ thuộc nhiều vào quy hoạch, nguồn nước, khả năng chịu ngập của từng thửa đất.
Người trung niên học nghề lại
Khó nhất là những người đã quen ruộng mấy chục năm, nay ở tuổi trung niên. Vào xưởng, họ phải làm quen máy móc, giờ giấc, nội quy, và thường phải bắt đầu từ việc giản đơn. Nhiều người chọn các việc gần với kỹ năng cũ: bảo vệ, tạp vụ, phụ bếp tập thể, chăm cây xanh trong khu, lái xe chở hàng, bốc xếp.
Các chương trình hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn, lao động bị thu hồi đất đã từng được triển khai ở thành phố; điều kiện và đợt mở lớp thay đổi theo từng năm. Người quan tâm nên hỏi ở UBND xã, hội nông dân, hội phụ nữ hoặc trung tâm dịch vụ việc làm, thay vì nghe truyền miệng.
Một kinh nghiệm đáng nhớ: những hộ chuyển đổi thành công thường không đặt cả gia đình vào một nguồn thu. Có người đi làm công, có người giữ trọ, có người buôn bán, nên khi một nguồn giảm, nhà vẫn đứng được.
Tiền đền bù, tiền bán đất và những bài học
Tiền về một lần, chi ra nhiều lần. Khi bán đất hay nhận tiền bồi thường, khoản tiền lớn đến một lúc. Có gia đình dùng để xây nhà, cho con học nghề, mua đất nơi khác, mở cửa hàng; cũng có gia đình tiêu nhanh rồi rơi vào khó khăn.
Đầu tư vào kỹ năng. Nhiều người kể lại rằng khoản chi đáng nhất là cho con học nghề hoặc học tiếp; nhà cửa có thể xây lại, nghề trong tay thì theo người cả đời.
Cẩn trọng với lời mời đầu tư. Người vừa có tiền dễ là mục tiêu của những lời mời góp vốn, cho vay lãi cao, mua đất "sắp lên giá" không giấy tờ rõ ràng. Nên tham khảo người hiểu luật và cơ quan chức năng trước khi xuống tiền.
Giữ quan hệ họ hàng, xóm giềng. Tranh chấp chia đất trong gia đình là chuyện xảy ra không ít ở vùng ven đô khi đất lên giá. Làm rõ giấy tờ thừa kế, phân chia sớm và bằng văn bản đúng luật giúp giữ hoà khí.
Phụ nữ trong cuộc đổi nghề
Trong nhiều gia đình gốc Tân Nhựt, phụ nữ là người chuyển nghề nhanh nhất. Các xưởng may, đóng gói, thực phẩm, kiểm hàng quanh vùng tuyển nhiều lao động nữ; chị em vừa đi ca vừa lo con, lo chợ, lo dãy trọ của gia đình. Có người làm công vài năm, dành dụm rồi về mở tiệm tạp hoá, quán ăn sáng ngay trước nhà.
Gánh nặng kép là có thật: ca làm, việc nhà, con nhỏ, cha mẹ già. Nhiều nhà xoay xở bằng cách đổi phiên với bà nội, bà ngoại, gửi con cho nhóm trẻ trong xóm, hoặc chọn việc gần nhà dù thu nhập thấp hơn. Lao động nữ có các quyền riêng theo pháp luật về thai sản, nuôi con nhỏ; biết và dùng đúng các quyền này giúp chị em không phải bỏ việc khi sinh con.
Các hội phụ nữ ở ấp, xã cũng thường là nơi giới thiệu lớp học nghề ngắn, nguồn vốn vay nhỏ để buôn bán, và thông tin việc làm gần nhà. Người mới đến tạm trú lâu dài cũng có thể tìm đến sinh hoạt, vừa có thêm thông tin, vừa có thêm người quen giữa nơi xa quê.
Người nhập cư và người gốc: cùng làm ăn
Một nét đặc trưng của Tân Nhựt hôm nay là người gốc và người nhập cư sống đan xen. Người gốc có đất, có nhà, biết đường đi nước bước; người nhập cư mang theo sức lao động, tay nghề, thói quen ăn uống, buôn bán của quê mình. Quán ăn miền Tây, miền Trung mở cạnh tạp hoá của người địa phương; chủ trọ và người thuê thành chỗ quen biết lâu năm.
Nhiều người đến làm công rồi ở lại, mua đất, lập gia đình, mở tiệm, trở thành người "gốc" của thế hệ sau. Ranh giới giữa người cũ và người mới vì thế mờ dần qua thời gian.
Không phải lúc nào cũng êm: chuyện ồn ào khuya, rác, chỗ để xe, tiền điện nước ở xóm trọ vẫn là nguyên nhân va chạm. Nhưng sinh kế của cả hai nhóm gắn vào nhau, nên phần lớn tìm được cách sống chung.
Đổi nghề còn tiếp diễn
Sau khi TP.HCM bỏ cấp huyện từ 1/7/2025 và xã Tân Nhựt mới được lập từ toàn bộ Tân Túc, Tân Nhựt cũ, phần còn lại của Tân Kiên cùng một phần Tân Tạo A và Phường 16 (Quận 8) cũ, quá trình đô thị hoá vẫn tiếp tục theo những quy hoạch chung của thành phố. Các dự án giao thông, mở rộng khu công nghiệp, khu dân cư mới được công bố ở những mức độ khác nhau; tiến độ thực tế thì phải theo dõi thông báo chính thức.
Với các gia đình, điều thiết thực là theo dõi quy hoạch ở nơi mình có đất, cho con cái học nghề phù hợp với những ngành đang có mặt quanh vùng như sản xuất, kho vận, cơ khí, điện, dịch vụ, và giữ một nguồn thu ổn định. Ruộng ở Tân Nhựt có thể còn ít đi, nhưng kinh nghiệm canh nước, chịu khó, quen đất của người nông dân vẫn là vốn quý khi chuyển sang nghề mới.
Với người mới đến, hiểu câu chuyện này giúp nhìn vùng đất công bằng hơn: những dãy trọ, xưởng, quán xá hôm nay mọc lên trên ruộng của những gia đình đã ở đây nhiều đời.
Và với chính người gốc, câu chuyện đổi nghề chưa có hồi kết. Con cháu họ hôm nay học đại học, làm kỹ sư, mở công ty vận tải, bán hàng trên mạng; có người lại quay về trồng rau sạch trên mảnh ruộng cũ của ông bà. Vùng ven đô luôn là nơi nghề cũ và nghề mới đứng cạnh nhau.
Câu hỏi thường gặp
Ở xã Tân Nhựt bây giờ còn làm lúa không?
Còn, chủ yếu ở phía Tân Nhựt cũ, xa Quốc lộ 1, nơi vẫn có những cánh đồng và kênh rạch nội đồng. Tuy vậy diện tích đã thu hẹp nhiều so với trước, và làm lúa không còn là sinh kế chính của đa số hộ.
Người nông dân lớn tuổi muốn đi làm công thì bắt đầu từ đâu?
Có thể hỏi các vị trí bảo vệ, tạp vụ, phụ bếp, chăm cây xanh, phụ kho ở các doanh nghiệp gần nhà, và hỏi UBND xã, hội nông dân, trung tâm dịch vụ việc làm về các lớp học nghề ngắn hạn đang mở.
Có chương trình hỗ trợ học nghề cho người bị thu hồi đất không?
Thành phố từng có các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người có đất bị thu hồi. Điều kiện và mức hỗ trợ thay đổi theo từng thời kỳ và từng dự án; hỏi trực tiếp UBND xã và đơn vị phụ trách bồi thường của dự án.
Xây trọ cho thuê trên đất nhà có cần giấy phép không?
Có những yêu cầu về xây dựng, phòng cháy chữa cháy, đăng ký kinh doanh và quản lý cư trú. Mức độ tuỳ quy mô. Trang có nói chi tiết ở mục nhà ở và mục doanh nghiệp; nên hỏi UBND xã trước khi xây.
Vì sao phía Tân Túc đô thị hoá nhanh hơn phía Tân Nhựt cũ?
Tân Túc từng là huyện lỵ, nằm sát Quốc lộ 1, có chợ, cơ quan, hàng quán từ sớm; Tân Kiên giáp Bình Tân và các trục lớn. Phía Tân Nhựt cũ nằm sâu hơn, nhiều ruộng và kênh rạch, nên chuyển đổi chậm hơn.