Người gốc ở xã Tân Nhựt mới phần lớn là con cháu những gia đình làm ruộng, làm vườn, đánh bắt trên kênh rạch của ba đơn vị cũ thuộc huyện Bình Chánh: xã Tân Nhựt, thị trấn Tân Túc và xã Tân Kiên. Họ sống theo nếp nhà nông Nam Bộ: nhà có sân rộng, bàn thờ ông bà giữa nhà, giỗ chạp quy tụ cả họ, quen đi lại bằng xuồng trước khi có đường nhựa. Trong vài chục năm, ruộng quanh nhà thành khu dân cư, dãy trọ, kho xưởng; người gốc vừa giữ nếp cũ vừa đổi nghề.
Bài này dành cho người mới chuyển tới muốn hiểu láng giềng lâu đời của mình, và cho người quê Tân Nhựt đi xa muốn kể lại với con cháu. Nội dung dựa trên những điều đã được ghi nhận rộng rãi về vùng này; chuyện riêng từng họ tộc, từng ấp thì nên hỏi trực tiếp các bậc cao niên.
Ba vùng đất, ba dáng người
Xã Tân Nhựt mới (từ 1/7/2025) theo Nghị quyết 1685/NQ-UBTVQH15 gồm toàn bộ thị trấn Tân Túc, toàn bộ xã Tân Nhựt cũ, phần còn lại của xã Tân Kiên cũ (một phần Tân Kiên đã sang phường Tân Tạo), phần còn lại của phường Tân Tạo A (Bình Tân cũ) và phần còn lại của Phường 16 (Quận 8 cũ). Mỗi mảnh có một dáng sinh hoạt riêng, và người gốc ở mỗi nơi nhìn chuyện đô thị hoá cũng khác nhau.
Tân Túc là huyện lỵ của Bình Chánh cũ, nằm dọc Quốc lộ 1 và sông Chợ Đệm. Người gốc ở đây sớm quen với buôn bán, công chức, chợ búa; nhiều nhà mặt đường đã mở tiệm từ lâu. Tân Nhựt cũ nằm sâu hơn về phía tây, đất trũng, phèn, nhiều kênh rạch và dừa nước; người gốc chủ yếu làm ruộng, sau chuyển sang trồng rau, nuôi gà vịt, cá. Tân Kiên cũ giáp Bình Tân, là nơi đô thị hoá nhanh nhất: đất ruộng thành khu dân cư, kho bãi, bệnh viện, đường lớn.
Vì vậy, khi nói "người Tân Nhựt" theo nghĩa xã mới, cần nhớ đó là ba cộng đồng gốc khác nhau được gộp tên. Một bác ở Tân Túc có thể kể về chợ Đệm và những chuyến xe đò thời trước; một cô ở Tân Nhựt cũ thì nhớ mùa nước nổi trên ruộng, đi xuồng ra đồng; một chú ở Tân Kiên lại kể chuyện bán đất ruộng, xây dãy trọ cho thuê.
Vùng bưng biền và lớp ký ức kháng chiến
Tân Nhựt cũ từng là vùng bưng biền, đất thấp, dừa nước và sông rạch chằng chịt. Chính địa hình ấy biến nơi đây thành căn cứ của lực lượng kháng chiến vùng Long An – Sài Gòn – Gia Định. Khu di tích Láng Le – Bàu Cò nằm trên địa bàn xã Tân Nhựt, gắn với trận đánh ngày 15/4/1948 được nhắc đến nhiều trong lịch sử kháng chiến Nam Bộ. Trong kháng chiến chống Mỹ, vùng này tiếp tục là nơi giao tranh ác liệt.
Với người gốc lớn tuổi, đây không phải là chuyện sách vở. Nhiều gia đình có người thân hy sinh, có nhà từng nuôi giấu cán bộ, có người nhớ những năm sau 1975 đất bị tàn phá, phải khai hoang lại từng mảnh ruộng. Các bài báo về Tân Nhựt hay nhắc giai đoạn ăn bo bo, chuối luộc, củ mì nướng thay cơm. Lớp ký ức ấy giải thích vì sao nhiều nhà gốc rất quý đất, ngại bán, và vì sao ngày giỗ trong vùng có khi trùng nhau vào cùng một thời điểm.
Người mới đến nên biết điều này để hiểu khi láng giềng lớn tuổi kể chuyện cũ. Lắng nghe, hỏi thêm một cách tôn trọng là cách nhanh nhất để được coi là người trong xóm. Chuyện chi tiết về lịch sử tên đất và các mốc kháng chiến được trình bày riêng ở mục lịch sử của trang.
Nếp nhà thường thấy ở gia đình gốc
Bàn thờ ông bà giữa nhà. Nhà gốc Nam Bộ thường đặt bàn thờ ông bà ở gian chính, phía trước là bộ ván hay bộ bàn ghế tiếp khách. Khách đến nhà lần đầu, nhất là dịp giỗ Tết, thường được mời thắp nhang trước khi ngồi. Không bắt buộc với người không theo lệ này; lễ phép từ chối hoặc đứng nghiêm chốc lát là đủ.
Sân rộng, nhà sau, hiên nước. Nhà cũ trong xóm có sân trước để phơi lúa, phơi đồ, đậu xe; nhà sau là bếp, gần ao hay kênh. Khi đất được chia cho con cái, sân thu hẹp lại, nhà ống mọc lên sát nhau, nhưng nhiều gia đình vẫn để một khoảng sân chung cho đám giỗ.
Con cháu ở gần nhau. Ông bà chia đất cho các con cất nhà quanh nhà gốc, thành cả một xóm cùng họ. Đi vào một con hẻm, có khi năm sáu nhà liền nhau là anh em ruột. Người thuê trọ trong những hẻm này nên biết chủ trọ và hàng xóm thường là một đại gia đình.
Ăn nói thẳng, mời mọc thật. Người gốc Nam Bộ nói chuyện thẳng, mời ăn là mời thật. Từ chối khéo thì được, nhưng nhận lời rồi không tới là điều người ta nhớ lâu.
Giữ ruộng dù không còn sống bằng ruộng. Nhiều nhà vẫn giữ một khoảnh ruộng, vườn rau, ao cá dù thu nhập chính đã chuyển sang cho thuê trọ, buôn bán, làm công. Mảnh đất ấy vừa là kỷ niệm, vừa là chỗ dựa khi cần.
Đổi nghề: từ ruộng lúa sang dãy trọ và xưởng
Ruộng ở Tân Nhựt cũ là đất phèn, trước đây chủ yếu làm lúa một vụ, năng suất không cao. Khi thành phố mở rộng về phía tây nam, nhiều gia đình chuyển sang trồng rau, nuôi gia cầm, nuôi cá; về sau một phần đất được chuyển thành đất ở, đất xây dựng. Ở Tân Kiên và quanh Tân Túc, quá trình này diễn ra sớm và nhanh hơn.
Cái thay đổi lớn nhất với người gốc không phải là thu nhập mà là nhịp sống. Một gia đình trước dậy lúc gà gáy ra đồng thì nay dậy sớm để mở cửa hàng tạp hoá, thu tiền phòng, giữ xe cho người thuê trọ, đưa đón cháu. Người trẻ trong nhà đi làm công nhân, văn phòng, chạy xe công nghệ, hoặc mở tiệm sửa xe, tiệm tóc ngay trong xóm.
Cũng có những gia đình bán đất rồi chuyển đi nơi khác, hoặc chia tiền cho con cái. Chuyện bán đất trong vùng ven đô thường kéo theo chuyện chia tài sản trong họ, đôi khi căng thẳng. Người ngoài nên tránh bình luận chuyện đất của nhà người khác, nhất là trong đám tiệc.
Người gốc ở ba vùng cũ: những nét thường được nhắc
Bảng dưới đây khái quát những nét người trong vùng hay nói với nhau, không phải điều tra xã hội học. Mỗi gia đình mỗi khác; bảng chỉ giúp người mới hiểu bối cảnh.
| Vùng cũ | Nghề truyền thống thường nhắc | Thay đổi rõ nhất | Điều người mới nên biết |
|---|---|---|---|
| Thị trấn Tân Túc | Buôn bán quanh chợ Đệm, dịch vụ, công chức huyện | Nhà mặt tiền thành cửa hàng, đường đông xe | Nhiều nhà gốc làm ăn lâu năm, quen biết rộng trong vùng |
| Xã Tân Nhựt cũ | Lúa một vụ trên đất phèn, rau, gia cầm, cá | Ruộng chuyển sang vườn rau, khu dân cư, nhà trọ | Ký ức kháng chiến đậm; người lớn tuổi rất quý đất |
| Xã Tân Kiên cũ | Ruộng, vườn ven đô | Đô thị hoá nhanh, kho bãi, bệnh viện, đường lớn | Dân mới đông, nhiều hẻm trọ do người gốc xây |
Ranh giới giữa ba vùng cũ nay chỉ còn trong cách gọi của người lớn tuổi. Khi họ nói "dưới Tân Túc", "trong Tân Nhựt", "ngoài Tân Kiên" là đang dùng địa danh cũ; nghe quen dần sẽ hình dung được vị trí.
Cách người gốc gọi tên nơi chốn
Người gốc ít khi gọi số ấp hay tên khu phố theo văn bản. Họ gọi theo cây cầu, con rạch, cái chợ, ngôi đình, tên một gia đình lớn trong xóm. "Gần đình", "qua cầu", "đầu xóm nhà ông Tư" là cách chỉ đường quen thuộc. Người mới nên hỏi thêm mốc cụ thể, vì cùng một mốc có thể có hai ba cách gọi.
Sau sắp xếp năm 2025, tên đơn vị hành chính đổi thành xã Tân Nhựt cho cả vùng, nhưng tên Tân Túc, Tân Kiên vẫn sống trong lời nói, trên bảng hiệu, trong địa chỉ cũ. Cách gọi này còn tồn tại rất lâu. Khi hẹn gặp hay giao hàng, nên nói cả tên cũ lẫn tên mới để người nghe khỏi lẫn với xã Tân Nhựt cũ, vốn nhỏ hơn xã mới nhiều.
Người gốc cũng hay gọi nhau theo thứ trong nhà: anh Hai, chị Ba, chú Tư, cô Năm. Ở Nam Bộ, con cả gọi là Hai. Gọi theo thứ là cách thân mật, lễ phép, dễ được đón nhận hơn gọi trống không hay gọi theo nghề.
Làm quen với hàng xóm gốc: những việc nhỏ có ích
Không cần nghi thức gì, chỉ cần vài việc đều đặn để thành người quen trong xóm:
- Chào hỏi người lớn tuổi khi đi ngang, nhất là buổi sáng sớm và chiều tối khi họ ngồi trước nhà.
- Hỏi thăm khi thấy nhà có đám, đám giỗ hay có người bệnh; góp một tay dọn bàn ghế nếu được nhờ.
- Giữ trật tự giờ nghỉ trưa và tối; nhà gốc thường có người già ngủ sớm.
- Tham gia họp tổ, góp ý về đường, đèn, rác; người gốc thường là người giữ các việc chung trong xóm lâu năm.
- Khi được mời ăn đám, đi đúng giờ, ngồi đúng mâm được chỉ, ra về chào gia chủ.
- Hỏi chuyện cũ khi người lớn có hứng kể; đừng chen ngang hay sửa sai chuyện lịch sử của họ.
Những việc nhỏ này giúp người mới được nhờ khi cần: trông nhà khi về quê, nhận hàng giùm, báo tin khi có ngập hay mất điện.
Sau ngày gộp xã: người gốc nhìn thay đổi thế nào
Từ 1/7/2025, TP.HCM bỏ cấp huyện; huyện Bình Chánh không còn là một đơn vị hành chính, ba đơn vị Tân Túc, Tân Nhựt, Tân Kiên cũ trở thành một xã. Với người gốc lớn tuổi, chuyện này gợi nhiều cảm xúc: thị trấn Tân Túc từng là nơi đặt trụ sở huyện, nay là một phần của xã; cái tên Tân Nhựt vốn chỉ một xã ruộng phía tây nay đại diện cho cả vùng rộng hơn nhiều.
Trong sinh hoạt hằng ngày, thay đổi rõ nhất là giấy tờ: địa chỉ mới trên căn cước, sổ đỏ, hoá đơn điện nước; nơi nộp hồ sơ đổi. Người già thường cần con cháu giúp đọc thông báo, đi làm thủ tục. Đình, chùa, chợ, xóm ấp thì vẫn ở nguyên chỗ cũ, lệ cúng đình, đám giỗ, cách gọi nhau không đổi theo nghị quyết.
Nhiều người gốc mong việc gộp xã giúp đường sá, trường học, chống ngập được đầu tư đồng đều hơn giữa phía Tân Kiên đã đô thị hoá và phía Tân Nhựt cũ còn nhiều ruộng. Người mới đến nên nhớ rằng trong lời nói của người địa phương, tên cũ sẽ còn được dùng rất lâu, và nhắc tên cũ đúng chỗ là một cách tỏ ra hiểu chuyện.
Câu hỏi thường gặp
Người gốc Tân Nhựt có giọng nói khác người miền Tây không?
Người gốc Tân Nhựt, Tân Túc, Tân Kiên nói giọng Nam Bộ, gần với giọng vùng Long An, Sài Gòn ven đô. Khác biệt với giọng các tỉnh miền Tây sâu hơn chỉ là vài từ, vài cách nhấn, người ngoài khó phân biệt. Trong vùng nay có rất nhiều người từ nơi khác đến nên giọng nói pha trộn.
Có thể tìm hiểu lịch sử dòng họ ở đâu?
Cách thực tế nhất là hỏi người cao tuổi trong họ, xem gia phả nếu gia đình còn giữ, và hỏi ban quý tế ở đình làng gần nhà, nơi thường giữ danh sách các vị tiền hiền, hậu hiền. Thông tin về các mốc chung của vùng có trong tư liệu lịch sử địa phương.
Láng Le – Bàu Cò ở đâu và có tham quan được không?
Khu di tích Láng Le – Bàu Cò nằm trên địa bàn xã Tân Nhựt, gắn với trận đánh năm 1948. Người dân và học sinh thường đến dịp các ngày kỷ niệm. Trước khi đến, nên hỏi chính quyền xã về giờ mở cửa, khu vực được vào và cách đi lại hiện hành.
Người gốc có còn làm ruộng không?
Còn, nhưng ít hơn trước nhiều. Phần đất nông nghiệp còn lại chủ yếu ở phía Tân Nhựt cũ, nhiều nhà chuyển sang trồng rau, nuôi gia cầm, cá. Phần lớn thu nhập của các gia đình gốc hiện đến từ buôn bán, cho thuê nhà, làm công và dịch vụ.
Thuê trọ trong xóm của một họ lớn có điều gì cần để ý?
Chủ trọ và hàng xóm thường là người thân của nhau nên chuyện gì trong xóm cũng được biết nhanh. Giữ trật tự, giữ vệ sinh, thanh toán đúng hẹn và chào hỏi đầy đủ là đủ để sống yên ổn. Có vướng mắc thì nói thẳng với chủ trọ, tránh than phiền với người ngoài.
Tên Tân Túc, Tân Kiên có còn dùng sau khi sáp nhập không?
Trong văn bản hành chính mới, cả vùng là xã Tân Nhựt. Tuy vậy tên Tân Túc, Tân Kiên vẫn được người dân dùng hằng ngày để chỉ khu vực, và còn xuất hiện trên giấy tờ cũ, bảng hiệu. Khi làm giấy tờ, nên ghi theo địa chỉ mới và giữ lại giấy tờ có địa chỉ cũ để đối chiếu.